Trong mua bán doanh nghiệp, cách trả tiền quan trọng không kém số tiền: chia đợt gắn với từng mốc pháp lý và giữ lại một phần sau ngày chốt là cách phổ biến để cân bằng rủi ro giữa người mua sợ mất tiền và người bán sợ mất công ty mà không được trả đủ.
Bài này giải thích đặt cọc theo Bộ luật Dân sự, các cấu trúc thanh toán thường gặp, cách xác định giá cuối cùng khi số liệu thay đổi giữa ngày ký và ngày chốt, chứng từ cần có, và cách xử lý khi thương vụ dừng giữa chừng. Các tỉ lệ trong bài là ví dụ giả định, không phải chuẩn mực.
Vì sao không nên trả hết một lần
Trả toàn bộ ngay khi ký là đặt toàn bộ rủi ro lên người mua: nếu hồ sơ đăng ký thay đổi bị trả, nếu một thành viên đổi ý, nếu nợ cũ lộ ra, người mua phải đi đòi lại tiền từ người đã cầm tiền. Ngược lại, chuyển giao toàn bộ công ty rồi mới nhận tiền là đặt rủi ro lên người bán: tên đã rút khỏi giấy tờ, quyền điều hành đã giao, mà tiền chưa về.
Chia đợt giúp mỗi khoản tiền đi kèm một bước pháp lý tương ứng. Người bán nhận một phần khi cam kết được ký, thêm một phần khi công ty đã chuyển sang tên người mua, phần cuối khi thời gian bảo đảm trôi qua mà không có vấn đề gì. Người mua thì không bao giờ ở thế đã trả hết mà chưa có gì trong tay.
Mức chia bao nhiêu, mấy đợt, không có công thức. Thương vụ nhỏ giữa người quen có thể chỉ hai đợt; thương vụ có nhiều rủi ro chưa kiểm hết cần ba đợt trở lên và khoản giữ lại lớn hơn. Kết quả rà soát pháp lý là căn cứ chính để quyết định.
Đặt cọc theo luật dân sự: hiểu đúng để không mất tiền
Đặt cọc là một biện pháp bảo đảm. Bộ luật Dân sự quy định đặt cọc là việc một bên giao cho bên kia một khoản tiền hoặc tài sản có giá trị trong một thời hạn để bảo đảm giao kết hoặc thực hiện hợp đồng.
Hậu quả mặc định khi một bên từ chối. Nếu hợp đồng được giao kết, thực hiện, tiền cọc được trả lại hoặc trừ vào nghĩa vụ trả tiền. Nếu bên đặt cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì tiền cọc thuộc về bên nhận cọc; nếu bên nhận cọc từ chối thì phải trả lại tiền cọc và một khoản tương đương giá trị tiền cọc, trừ trường hợp có thoả thuận khác.
Chữ "từ chối" là chỗ hay tranh cãi. Thương vụ dừng vì rà soát phát hiện nợ lớn, vì cơ quan đăng ký không chấp nhận hồ sơ, vì một thành viên không ký: đó có phải là "từ chối" không? Hợp đồng đặt cọc nên liệt kê rõ các trường hợp được hoàn cọc mà không bị phạt.
Đặt cọc khác trả trước. Một khoản ghi là "trả trước" hay "tạm ứng" không có cơ chế phạt cọc như trên. Ghi đúng tên và đúng bản chất ngay trong văn bản.
Mức cọc vừa phải. Mức cọc đủ để hai bên nghiêm túc, nhưng không lớn tới mức bên mua mất số tiền đáng kể khi phát hiện vấn đề trong lúc rà soát.
Các cấu trúc thanh toán thường gặp
Bảng so sánh các cách tổ chức dòng tiền. Thực tế thường kết hợp nhiều cách trong một thương vụ.
| Cấu trúc | Cách làm | Phù hợp khi |
|---|---|---|
| Đặt cọc rồi trả phần còn lại khi chốt | Một khoản cọc lúc ký, phần còn lại khi có giấy chứng nhận đăng ký mới | Thương vụ nhỏ, rủi ro thấp, hai bên tin nhau |
| Chia đợt theo mốc | Mỗi đợt gắn với một mốc: ký, đạt điều kiện tiên quyết, đăng ký xong, bàn giao xong | Có nhiều điều kiện tiên quyết cần thời gian |
| Giữ lại một phần sau chốt | Một phần giá chưa trả trong một thời gian để bù trừ nghĩa vụ bồi hoàn | Còn rủi ro nợ ẩn, thuế, bảo hiểm chưa kiểm hết |
| Tài khoản phong toả ba bên | Tiền gửi vào tài khoản tại ngân hàng, chỉ giải toả khi đạt điều kiện ghi trong thoả thuận ba bên | Hai bên chưa tin nhau, giá trị lớn |
| Trả chậm theo kỳ | Người mua trả dần trong nhiều kỳ sau khi nhận công ty | Người bán chấp nhận rủi ro tín dụng, thường đi kèm tài sản bảo đảm |
Tài khoản phong toả cần ngân hàng đồng ý tham gia và có thể phát sinh phí; điều kiện cụ thể hỏi trực tiếp ngân hàng. Trả chậm theo kỳ thì người bán nên xin bảo đảm, ví dụ cầm cố chính phần vốn đã bán cho tới khi trả đủ.
Ví dụ giả định một lịch thanh toán ba đợt
Ví dụ giả định cho một thương vụ chuyển nhượng toàn bộ vốn công ty TNHH một thành viên; tỉ lệ chỉ minh hoạ cách nghĩ.
- Ký hợp đồng đặt cọc sau khi thống nhất điều khoản chính: người mua đặt cọc khoảng một phần mười giá, hợp đồng liệt kê các trường hợp hoàn cọc nếu rà soát phát hiện vấn đề nghiêm trọng.
- Rà soát xong, ký hợp đồng chuyển nhượng chính thức; tiền cọc chuyển thành một phần thanh toán.
- Bên bán hoàn thành các điều kiện tiên quyết như giải chấp tài sản, điều chỉnh vốn điều lệ; người mua thanh toán đợt chính, khoảng sáu đến bảy phần mười giá.
- Hồ sơ đăng ký thay đổi chủ sở hữu được chấp nhận, bàn giao con dấu, tài khoản, sổ sách xong; người mua thanh toán thêm một phần.
- Khoảng còn lại được giữ trong một thời gian thoả thuận; hết thời hạn mà không có yêu cầu bồi hoàn hợp lệ thì trả nốt cho người bán, có yêu cầu thì trừ theo cơ chế đã ghi.
Giá cố định hay điều chỉnh theo số liệu ngày chốt
Giữa ngày ký và ngày chốt có thể là vài tuần đến vài tháng. Trong thời gian đó, tiền mặt trong tài khoản công ty thay đổi, hàng tồn tăng giảm, công nợ phát sinh. Có hai cách chính để xử lý.
Cách thứ nhất là giá cố định theo số liệu tại một ngày mốc trước khi ký, kèm cam kết của bên bán không rút tiền, không chia lợi nhuận, không tạo nghĩa vụ bất thường từ ngày mốc tới ngày chốt. Cách này đơn giản, phù hợp công ty nhỏ có dòng tiền ổn định. Cách thứ hai là giá tạm tính, rồi sau ngày chốt hai bên cùng lập bảng số liệu tại ngày chốt và điều chỉnh tăng giảm theo chênh lệch tiền mặt, nợ vay, vốn lưu động so với mức chuẩn đã thoả thuận. Cách này công bằng hơn khi số liệu biến động mạnh, nhưng cần kế toán hai bên làm việc với nhau và có cơ chế khi không thống nhất.
Dù chọn cách nào, hợp đồng phải ghi rõ ai lập số liệu, trong bao lâu, bên kia có quyền phản đối không, và nếu vẫn bất đồng thì nhờ ai xác định. Bỏ trống phần này là để ngỏ một tranh chấp.
Chứng từ và kênh thanh toán
Tiền mua doanh nghiệp là khoản lớn, đi kèm nghĩa vụ thuế và có thể bị kiểm tra sau này. Vài nguyên tắc nên giữ:
- Trả bằng chuyển khoản, không dùng tiền mặt cho các khoản lớn; nội dung chuyển khoản ghi rõ hợp đồng, đợt thanh toán.
- Khi mua phần vốn, cổ phần, tiền trả cho người bán là chủ sở hữu, không trả vào tài khoản của công ty mục tiêu; trả nhầm vào công ty là tạo ra một khoản phải trả mới, rất khó gỡ.
- Khi bên bán gồm nhiều người, trả vào tài khoản của từng người theo phần của họ, hoặc có văn bản uỷ quyền nhận tiền hợp lệ.
- Mỗi đợt có biên nhận hoặc văn bản xác nhận đã nhận tiền, có chữ ký của người nhận.
- Người mua là nhà đầu tư nước ngoài cần tuân thủ quy định quản lý ngoại hối về tài khoản dùng cho giao dịch; hỏi ngân hàng trước khi chuyển.
- Nghĩa vụ thuế phát sinh từ chuyển nhượng do bên nào kê khai, nộp, khấu trừ ra sao thuộc phần tư vấn thuế; ghi rõ trong hợp đồng.
Khi thương vụ dừng giữa chừng
Thương vụ có thể dừng vì nhiều lý do: rà soát thấy nợ quá lớn, một thành viên rút lui, điều kiện tiên quyết không đạt đúng hạn, cơ quan đăng ký yêu cầu bổ sung mà không bổ sung được. Khi đó câu hỏi đầu tiên là tiền đã trả được xử lý thế nào, và câu trả lời phải nằm sẵn trong hợp đồng.
Hợp đồng nên phân biệt ba nhóm: dừng vì lỗi của bên mua, dừng vì lỗi của bên bán, và dừng vì lý do không thuộc lỗi bên nào như điều kiện tiên quyết không đạt dù hai bên đã cố. Nhóm cuối thường được hoàn tiền mà không phạt. Nếu công ty đã được đăng ký sang tên người mua rồi mới dừng, việc đảo ngược phức tạp hơn nhiều, cần đăng ký thay đổi ngược lại và thoả thuận về những gì đã xảy ra trong thời gian người mua điều hành; vì vậy khoản thanh toán lớn nên xếp sau mốc đăng ký, không xếp trước.
Khi đã quyết định dừng, bên muốn chấm dứt nên gửi thông báo bằng văn bản, nêu căn cứ trong hợp đồng, đề nghị cụ thể về việc hoàn tiền và thời hạn hoàn. Song song, hai bên trả lại cho nhau giấy tờ đã giao, bên mua huỷ hoặc trả lại hồ sơ đã nhận khi rà soát theo thoả thuận bảo mật, và không bên nào tiếp tục dùng thông tin của bên kia. Một cuộc chia tay có biên bản rõ ràng giúp cả hai tránh được một vụ kiện kéo dài, và giữ cho bên bán còn cơ hội tìm người mua khác mà không bị thông tin rò rỉ ảnh hưởng tới khách hàng, người lao động.
Câu hỏi thường gặp
Nên đặt cọc bao nhiêu khi mua lại công ty?
Không có tỉ lệ bắt buộc. Mức cọc nên đủ để thể hiện cam kết nhưng không quá lớn, vì nếu rà soát phát hiện vấn đề mà hợp đồng đặt cọc không có điều khoản hoàn cọc rõ ràng, bên mua có thể mất khoản này. Điều quan trọng hơn mức cọc là các trường hợp được hoàn cọc.
Bên bán đổi ý sau khi nhận cọc thì sao?
Theo quy định mặc định của Bộ luật Dân sự, bên nhận cọc từ chối giao kết, thực hiện hợp đồng thì phải trả lại tiền cọc và một khoản tương đương giá trị tiền cọc, trừ khi các bên thoả thuận khác. Hợp đồng đặt cọc nên ghi rõ thời hạn và các trường hợp cụ thể.
Tiền mua vốn trả vào tài khoản công ty có được không?
Không nên. Khi mua phần vốn hoặc cổ phần, bên nhận tiền là người bán, tức là chủ sở hữu, không phải công ty. Trả vào tài khoản công ty tạo ra rắc rối về sổ sách và thuế, và không chứng minh được bạn đã trả cho người bán.
Khoản giữ lại sau ngày chốt nên giữ bao lâu?
Tuỳ loại rủi ro còn lại. Rủi ro về nợ nhà cung cấp thường lộ ra nhanh, rủi ro về thuế, bảo hiểm có thể lâu hơn. Các bên thường thoả thuận một thời hạn chung và có thể giải toả dần từng phần khi từng nhóm rủi ro qua đi.
Có thể trả chậm sau khi đã nhận công ty không?
Có thể nếu người bán đồng ý. Khi đó người bán chịu rủi ro người mua không trả, nên thường yêu cầu bảo đảm như cầm cố phần vốn đã bán, bảo lãnh của bên thứ ba, hoặc giữ một số quyền cho tới khi trả đủ.
Nếu cơ quan đăng ký trả hồ sơ thì có phải hoàn tiền không?
Tuỳ hợp đồng. Hồ sơ bị trả vì thiếu giấy tờ thường chỉ cần bổ sung; nếu không thể đăng ký được vì lý do pháp lý thì đó là trường hợp điều kiện không đạt, và hợp đồng nên quy định hoàn tiền đã trả mà không phạt bên nào.